Chuyện về vua Bảo Đại

0
Chuyện về vua Bảo Đại

Đọc bài Chuyện về vua Bảo Đại mới nhất

Theo sách “Những chuyện kể về các đời vua nhà Nguyễn”, vua Khải Định mất ngày 6-11-1925, nhưng mãi đến ngày 8-1-1926, Vĩnh Thụy mới về tới kinh thành Huế để thọ tang vua cha. Ngay sau đó, Đông cung Hoàng Vĩnh Thụy lên ngôi và lấy niên hiệu là Bảo Đại. Đây là vị vua thứ 13, đồng thời cũng là vị vua cuối cùng của triều Nguyễn và là vị vua cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam ngự trị trên 1000 năm. “Bảo Đại” chỉ là niên hiệu nhà vua nhưng tục lệ vua nhà Nguyễn chỉ giữ một niên hiệu nên nay thường dùng như là tên nhà vua.

Đến tháng 3 cùng năm, Bảo Đại trở lại Pháp để tiếp tục học tập. Từ niên khóa 1930, Bảo Đại theo học tại trường Khoa học Chính trị (Sciences Po). Sau 10 năm đào tạo ở “Mẫu quốc”, đến ngày 16-8-1932, Bảo Đại cùng một số quan lại trong triều đình Huế xuống tàu Dartagnan về nước. Sau khi về nước không bao lâu, ngày 19-9-1932, Bảo Đại ban hành đạo dụ số một tuyên cáo chấp chính và khẳng định chế độ quân chủ ở Nam triều. Văn bản này hủy bỏ “Quy ước” ngày 16-11-1925 được triều đình lập ra sau khi vua Khải Định chết.

Tiếp đó, vua Bảo Đại đã tiến hành cải cách công việc trong triều như sắp xếp lại việc nội chính, hành chính… Bảo Đại đã cho bỏ một số tập tục mà các tiên vương đặt ra như thần dân không phải quỳ lạy mà có thể ngước nhìn long nhan nhà vua khi nhà vua tới, mỗi khi vào chầu các quan Tây không phải chắp tay xá lạy mà chỉ bắt tay vua, các quan ta cũng không phải quỳ lạy…

Sau đó, Bảo Đại đã ban hành một đạo dụ cải tổ nội các, quyết định tự mình chấp chính và sắc phong thêm 5 thượng thư mới xuất thân từ giới học giả và hành chính là các ông: Phạm Quỳnh, Thái Văn Toản, Hồ Đắc Khải, Ngô Đình Diệm và Bùi Đằng Đoàn nhằm thay thế các thượng thư già yếu hoặc kém năng lực là Nguyễn Hữu Bài, Tôn Thất Đàn, Phạm Liệu, Võ Liêm, Vương Tứ Đại. Đồng thời, vua Bảo Đại còn cho thành lập Viện Dân biểu để trình bày nguyện vọng lên nhà vua và quan chức bảo hộ Pháp và cho phép Hội đồng tư vấn Bắc Kỳ được thay mặt Nam triều trong việc hợp tác với chính quyền bảo hộ. Đến tháng 12-1933, vua Bảo Đại ngự du Bắc Hà thăm dân chúng.

Cũng trong thời gian này, khắp từ trong Nam đến ngoài Bắc, từ thành thị đến vùng nông thôn đã xuất hiện bài đồng dao: “Quan lại thông nho” đã hỏng rồi! Và bài đồng dao này được nhiều người từ già đến trẻ cũng được biết rồi thuộc lòng và nó thực sự gây xôn xao dư luận thời bấy giờ. Chính vì thế, bài đồng dao này được xem là bản đồng ca đầy cay đắng, của 5 vị đại thần “thông Nho học” dưới triều Bảo Đại bị bãi chức:

Năm cụ khi không rớt cái ình,

Đất bằng sấm dậy xứ Thần kinh.

BÀI không đeo nữa, xin dâng LẠI,

ĐÀN chẳng ai nghe khảo dở HÌNH.

LIỆU thế không xong, BINH chẳng được,

LIÊM đành chịu đói, LỄ không rinh.

Công danh như thế là hưu hỉ,

ĐẠI sự xin nhường kẻ hậu sinh.

Lời bàn:

Căn cứ vào những tư liệu lịch sử về thân thế và sự nghiệp của vua Bảo Đại, đây là một cuộc cải cách “vĩ đại” nhất về nhân sự hàm “Thượng thư” (bộ trưởng) của ông trong suốt 20 năm ngồi trên ngai vàng. Với cải cách này, các vị thượng thư được đào tạo từ “cửa Khổng sân Trình” hay nói theo cách khác là những người uyên thâm về Nho học trong triều đình Huế đã được thay thế bằng những ông quan mới “Âu – Á kiêm thông”, mà đứng đầu là ông Phạm Quỳnh, vốn là chủ bút báo Nam Phong. Phạm Quỳnh từ chân trắng được bổ nhiệm ghế thượng thư, nhất phẩm triều đình.

Điều đáng nói ở đây là nếu việc cải cách nhân sự trên mang lại hiệu quả cao trong việc điều hành đất nước ngày một phát triển, thì đó là sự của vua Bảo Đại. Nhưng thực tế cuộc cải cách này của ông chỉ mang lại mối quan hệ giữa triều đình với chính quyền đô hộ ngày càng khắng khít hơn, còn người dân Việt Nam thời đó chẳng được thêm gì ngoài hai cái còng trên cổ. Hơn nữa, sự cải cách này không phải xuất phát từ ý tưởng vì dân vì nước của Bảo Đại mà là theo lệnh của viên toàn quyền Đông Dương – Pasquier. Thật hại thay cho một bù nhìn.

Theo Truyengiaoduc.com


Nhận thông báo qua email
Nhận thông báo cho
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments